KỶ NIỆM 96 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2026)
Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2.1930 - 3.2.2026) diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi đất nước vừa bước qua thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không đơn thuần là dịp để hoài niệm về mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, mà là thời điểm mang tính bước ngoặt để nhận diện rõ ràng vị thế quốc gia trong “kỷ nguyên mới” - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ, chúng ta thấy rõ mạch vận động nhất quán và xuyên suốt: Từ sứ mệnh “thành lập” để giải phóng dân tộc, đến bản lĩnh “lãnh đạo cách mạng” qua các cuộc kháng chiến và công cuộc Đổi mới, để rồi hôm nay hội tụ tại điểm “kiến tạo phát triển” với khát vọng 2045.
SỰ LỰA CHỌN TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ
Mùa Xuân năm 1930 không chỉ đánh dấu sự ra đời của một tổ chức chính trị mà còn là lời giải đáp duy nhất cho bài toán hóc búa của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước từ Cần Vương đến các xu hướng dân chủ tư sản dù diễn ra sôi nổi, đầy nhiệt huyết nhưng đều thất bại do thiếu đường lối cứu nước đúng đắn và thiếu một giai cấp tiên phong đủ sức tập hợp lực lượng. Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp biện chứng giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Sự lựa chọn này minh chứng cho tư duy chiến lược vượt tầm thời đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các bậc tiền bối cách mạng. Đảng không chỉ đóng vai trò là người tổ chức, mà còn là ngọn đuốc soi đường, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập kỷ.
Hành trình từ năm 1930 đến năm 1975 là giai đoạn Đảng thực hiện sứ mệnh lịch sử “lãnh đạo cách mạng” giải phóng dân tộc. Chưa đầy 15 năm sau khi thành lập, với vỏn vẹn 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 long trời lở đất, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi này không phải là sự ăn may của lịch sử mà là kết quả của nghệ thuật chớp thời cơ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng dày công vun đắp. Tiếp nối là 30 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, dân tộc Việt Nam đã đánh bại những thế lực quân sự hùng mạnh nhất thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975 đã minh chứng hùng hồn cho chân lý: Một dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng nếu có một Đảng chân chính lãnh đạo, có đường lối đúng đắn và khối đoàn kết thống nhất thì hoàn toàn có thể chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
TỪ TƯ DUY BAO CẤP SANG KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN
Sau ngày thống nhất, đất nước đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối những năm 70, đầu thập niên 80. Đại hội VI (1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, từ một quốc gia thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu, hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA ĐẠI HỘI XIV
Đại hội XIV là dấu mốc khởi đầu cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nếu Đại hội VI là đại hội của “Đổi mới”, thì Đại hội XIV là đại hội của “Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Nghị quyết Đại hội XIV xác định mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045: Phát triển nhanh, bền vững; nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường tự chủ, tự cường, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới. Ba trụ cột chiến lược gồm: Hoàn thiện thể chế phát triển.


